Quy Luật, Nguyên Tắc, Bản Chất Của Đạo Và Cuộc Sống (P.2)

20:57 |
28
Tri kì hùng, thủ kì thư, vi thiên hạ khê; Vi thiên hạ khê, thường đức bất li, phục qui ư anh nhi.
Tri kì bạch, thủ kì hắc, vi thiên hạ thức; Vi thiên hạ thức, thường đức bất thắc, phục qui ư vô cực.
Tri kì vinh, thủ kì nhục, vi thiên hạ cốc; Vi thiên hạ cốc, thường đức nãi túc, phục qui ư phác. Phác tán tắc vi khí, thánh nhân dụng chi, tắc vi quan trưởng, cố đại chế thập bất cát.

Người đạt đạo rõ biết là mạnh mẽ, quả cảm,… nhưng xử lý mọi việc lại thể hiện sự mềm mại, uyển chuyển; Giống như là làm khe nước trong trời đất; Như là khe nước cho nên có được cái đức huyền diệu, không rời xa đức thì sẽ trở về hồn nhiên như là đứa trẻ thơ.
Người đạt đạo rõ biết thế nào là tốt, là đẹp nhưng lại kham nhẫn nhận lấy phần xấu xa, thấp hèn, yếu kém, chê bỏ,… của người đời làm nguyên tắc sống trong thiên hạ; Sống theo nguyên tắc đó thì cái đức vĩnh cửu bất biến sẽ không sai lạc, không bị đứt gãy mà trở về với gốc, trở về bản thể đạo.
Người đạt đạo rõ biết vinh quang nhưng lại sống như là nhẫn nhục, chấp nhận làm chỗ thấp trũng của thiên hạ; Làm chỗ thấp trũng của thiên hạ thì cái đức vĩnh cửu bất biến sẽ tự đầy đủ, mà trở về mộc mạc như gỗ chưa đẽo. Gỗ chưa đẽo, tùy thuận mặc người xẻ ra mà làm thành đồ dùng; Người đạt đạo giữ sự thuần phác mà làm chủ mọi vật, không cố làm mà thành toàn được mọi việc. (Diễn theo nghĩa tu thân - tự học)

2
Thiên hạ giai tri mĩ chi vi mĩ, tư ác dĩ; Giai tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện dĩ.
Cố hữu vô tương sinh; Nan dị tương thành; Trường đoản tương hình; Cao hạ tương khuynh; Âm thanh tương hòa; Tiền hậu tương tùy.
Thị dĩ thánh nhân xử vô vi chi sự; Hành bất ngôn chi giáo. Vạn vật tác yên nhi bất từ, sinh nhi bất hữu, vi nhi bất thị, công thành nhi bất cư. Phù duy bất cư, thị dĩ bất khứ.

Người đời cho rằng cái đẹp là đẹp, từ đó mà phát sinh ra quan niệm cái xấu; Người đời cũng phân biệt điều thiện là thiện, do đó mà phát sinh ra quan niệm cái ác.
Sở dĩ hình thành nên những quan niệm trên là vì có và không sinh ra nhau; Dễ và khó tạo thành nhau; Ngắn và dài làm rõ nhau; Cao và thấp dựa vào nhau; Sự im lặng và tiếng động hòa lẫn nhau; Trước và sau theo nhau.
Cho nên người đạt đạo xử sự mọi việc tùy thuận như thể là không chú ý, không quan tâm, không làm gì - vô vi; Nhưng lại dùng hành động, việc làm, dùng thuật không nói mà dạy dỗ, chỉ bảo mọi người. Người đạt đạo mặc nhiên, tùy thuận giúp mọi vật, mọi việc,… thành tựu mà không làm chủ, khéo thành toàn mọi việc mà không chiếm làm của mình, làm mà không tự cho rằng hay khéo, việc thành rồi thì không còn quan tâm, để mắt đến. Vì không quan tâm đến những việc đã hoàn thành, không để mắt đến những chuyện đã rồi nên mới có thời gian làm nhiều việc khác, nhờ vậy nên sự nghiệp mới còn mãi. (Diễn theo nghĩa tu thân - tự học)

8
Thượng thiện nhược thủy. Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh; Xử chúng nhân chi sở ố. Cố cơ ư đạo.
Cư thiện địa; Tâm thiện uyên; Dữ thiện nhân; Ngôn thiện tín; Chính thiện trị; Sự thiện năng; Động thiện thời.
Phù duy bất tranh, cố vô vưu.

Người hiền lành thì như là nước. Nước khéo làm lợi cho vạn vật mà không tranh với vật nào; Ở chỗ mọi người không thích. Ở chỗ thấp trũng cho nên gần với đạo.
Người có tâm hiền lành thì khéo lựa chỗ khiêm nhường; Lòng thì khéo giữ cho thâm trầm; Cư xử với người thì khéo dùng lòng nhân, yêu thương người; Nói thì khéo giữ lời; Giúp người bằng cả tấm lòng ngay thẳng; Làm việc cần mẫn, có hiệu quả; Có cách sống tùy thuận, hợp thời cuộc.
Chỉ vì không tranh với ai, nên không tạo ra lầm lỗi.

42
(42-2)Nhân chi sở ố, duy “cô”, “quả”, “bất cốc”. Nhi vương công dĩ vi xưng. Cố, vật hoặc tổn chi nhi ích, hoặc ích chi nhi tổn.

Những điều mà người đời không thích, ghét bỏ như là “côi cút”, “ít đức”, “không tốt”, vậy mà các bậc minh quân xưa lại dùng những ngôn từ đó làm danh xưng. Bởi vì các bậc vua hiền rõ biết quy luật của đạo: Mọi việc có khi giảm bớt mà hóa ra lại tăng thêm, ngược lại khi thêm vào mà thành ra bớt đi.

39
(39-2)Cố quí dĩ tiện vi bản, cao dĩ hạ vi cơ. Thị dĩ hầu vương tự vị cô, quả, bất cốc. Thử phi dĩ tiện vi bản dả? Phi dư? Cố trí dự vô dự, bất dục lục lục như ngọc, lạc lạc như thạch.

Không chỉ vậy, sang lấy hèn làm gốc, cao lấy thấp làm nền. Vì những nguyên do trên mà những bậc vua chúa xưa mới khiêm hạ xưng là cô - côi cút, quả - ít đức, bất cốc - không tốt (Dùng danh xưng đều là những lời khiêm tốn, giản dị). Có phải vì những ông vua sáng suốt thuận theo đạo đã rõ biết lấy hèn làm gốc ? Điều này có đúng không? Do đó mà biết khiêm hạ là đức tính cao quý nhất, vì vậy người học đạo không muốn được tôn trọng, trân quý như ngọc mà chỉ muốn được xem như là sỏi đá, là gạch vụn.

70
(70-2)Thị dĩ thánh nhân bị hạt hoài ngọc.

Cho nên người sống thuận theo đạo thà ăn mặc thô tháo, đơn sơ, giản dị mà ôm ngọc quí trong lòng - tức là giữ đạo.

23
(23-2)Tín bất túc yên, hữu bất tín yên.

Người nào không có đủ sự chân thật, thành tâm,… thì sẽ không được mọi người tin tưởng, coi trọng.

38
Thượng đức bất đức, thị dĩ hữu đức; Hạ đức bất thất đức, thị  dĩ vô đức.
Thượng đức vô vi nhi vô dĩ vi; Hạ đức vô vi nhi hữu dĩ vi.
Thượng nhân vi chi nhi vô dĩ v.
 Thượng nghĩa vi chi nhi hữu dĩ vi.
Thượng lễ vi chi nhi mạc chi ứng, tắc nhương tí nhi nhưng chi.
Cố thất đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ. Phù lễ giả, trung tín chi bạc, nhi loạn chi thủ. Tiền thức giả đạo chi hoa; Nhi ngu chi thủy. Thị dĩ đại trượng phu xử kì hậu, bất cư kì bạc; Xử kì thực, bất cư kì hoa. Cố khứ bỉ thủ thử.

Người có đức thuận theo tự nhiên và không có ý cầu đức, cho nên có đức; Người kém đức không thuận theo tự nhiên, có ý cầu đức, cho nên không có đức.
Người có đức không làm - vô vi mà thật ra là không việc gì không làm, làm mà không có ý thức đang làm vì làm việc tùy thuận theo tự nhiên; Người kém đức thì thật ra không làm - vô vi mà lại tranh công do có ý nghĩ mình đã làm.
Người có lòng thương yêu giúp người thì việc giúp người xuất phát từ tấm lòng thành chứ không vì toan tính cá nhân, không nghĩ mình đã làm việc tốt; Người có lòng nghĩa hiệp thì làm việc nghĩa mà có dụng ý làm vì có sự cân phân nặng nhẹ giữa việc nên làm và việc không nên làm, để tâm đến việc tốt đã làm.
Người giữ lễ - coi trọng hình thức, nguyên tắc,… thì sống theo nguyên tắc, chú trọng thủ tục, lễ nghi,… và áp đặt, buộc người khác phải giữ lễ nghi giống như mình. Việc giữ lễ là sống theo khuôn khổ, lề lối, nguyên tắc,… đôi khi quá mức gây mất hết tình.
Thực tế là đạo mất rồi sau mới có đức, đức mất rồi sau mới có nhân, nhân mất rồi sau mới có nghĩa, nghĩa mất rồi sau mới có lễ. Lễ là biểu hiện cho sự suy vi trung hậu, thành tín, là đầu mối của sự hỗn loạn, rối ren cho xã hội. Lễ giống như là việc dùng sự tính toán để sắp xếp, toan tính mọi việc từ trước, làm mất đi sự chất phác, tự nhiên, là biểu hiện của sự giả tạo, gượng ép; Điều đó chỉ làm rối đạo do sự bày vẽ màu mè, rườm rà, phiền phức của lễ nghi, hủ tục; Lễ nghi, hủ tục chính là nguồn gốc của sự ngu ngốc và mê muội. Cho nên người hiểu đạo chỉ giữ sự trung hậu thành tín mà không trọng lễ nghi, hình thức; Giữ đạo chất phác, tự nhiên mà không dùng đến sự hào nhoáng, hoa mĩ của lễ nghĩa. Giữ gốc, giữ đạo mà không lệ thuộc vào tục lệ, lễ nghi của người đời.

Quy Luật, Nguyên Tắc, Bản Chất Của Đạo Và Cuộc Sống (P.1)

01:48 |
Quy Luật, Nguyên Tắc, Bản Chất Của Đạo Và Cuộc Sống (P.1)
40
Phản giả đạo chi động, nhược giả đạo chi dụng. Thiên địa vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô.

Luật vận hành của đạo là trở lại lúc đầu - trở về gốc, tính diệu dụng của đạo là khiêm nhu, uyển chuyển, biến hóa sáng tạo,... Vạn vật và cả trời đất được sinh ra nên gọi là có, mà  có        lại       từ            không tạo       ra.

16
Trí hư cực, thủ tĩnh đốc, vạn vật tịnh tác, ngô dĩ quan phục.
Phù vật vân vân, các phục qui kì căn. Qui căn viết tĩnh, thị vị phục mệnh. Phục mệnh viết thường. Tri thường viết minh, bất tri thường vọng tác hung.
Tri thường dung; Dung nãi công; Công nãi toàn; Toàn nãi thiên; Thiên nãi đạo; Đạo nãi cửu, một thân bất đãi.

Khi con người giữ cho tâm trí được rỗng không, tĩnh lặng rồi quan sát, tìm hiểu vạn vật sinh trưởng ta thấy được quy luật phản phục của đạo - quy luật quay trở về nguồn của vạn vật.
Vạn vật sinh trưởng, phát triển đến cực thịnh đều trở về căn nguyên, về gốc của chúng - tức là trở về đạo. Trở về gốc thì tĩnh, trở về tĩnh còn gọi là trở về mệnh. Trở về mệnh là bản chất chung nhất, thường còn của vạn vật; Cho nên trở về mệnh là quy luật bất biến, không thể thay đổi của vạn vật. Biết và thuận theo quy luật bất biến thì sáng suốt. Không biết hoặc làm trái lại quy luật bất biến thì sẽ gây họa, hỏng việc,...
Biết luật bất biến thì bao dung; Bao dung thì công bình; Công bình thì toàn vẹn; Toàn vẹn thì phù hợp với tự nhiên; Phù hợp với tự nhiên thì phù hợp với đạo; Hợp với đạo thì trường cửu, lâu dài và suốt đời sẽ an toàn, ít gặp hiểm nguy.

52
(52-1)Thiên hạ hữu thủy, dĩ vi thiên hạ mẫu. Kí đắc kì mẫu, dĩ tri kì tử, kí tri kì tử, phúc thủ kì mẫu, một thân bất đãi.
 (52-3)Kiến tiểu viết minh; Thủ nhu viết cường. Dụng kì quang, phục qui kì minh, vô di thân ương. Thị vi tập thường.

Vạn vật có nguồn gốc  đạo, đạo là mẹ của vạn vật. Nắm được mẹ - hiểu được đạo thì sẽ biết được con - tức là vạn vật,  đã biết được con mà lại giữ được mẹ thì suốt đời không nguy.
Thấy cái ẩn vi của đạo thì gọi là sáng suốt; Giữ được nhu nhuyễn, uyển chuyển của đạo thì gọi là bền vững. Sống được với sự sáng suốt của đạo, nắm giữ được sự hiểu biết tường tận về vạn vật thì sẽ không bị tai họa. Như vậy thì sẽ được xem là trường cửu, dài lâu.

14
(14-2)Chấp cổ chi đạo, dĩ ngự kim chi hữu; Năng tri cổ thủy, thị vị đạo kỉ.

Người giữ được cái đạo từ xưa thì có thể nhận biết được mọi sự vật ngày nay; Biết được cái khởi nguồn - khởi thủy của vạn vật tức là nắm được giềng mối, quy luật của đạo.

9
           Trì nhi doanh chi, bất như kì dĩ; Sủy nhi nhuệ chi, bất khả trường bảo.
Kim ngọc mãn đường, mạc chi năng thủ; Phú quý nhi kiêu, tự di kì cữu.
Công thành thân thoái; Thiên chi đạo.

Giữ chậu đầy nước hoài, chẳng bằng lấy nước sử dụng, dùng chậu làm việc cần làm khác; Mài dao cho thật sắc bén thì độ sắc bén đó sẽ khó thể bền lâu.
Vàng ngọc đầy nhà, làm sao có thể giữ nổi; Giàu sang mà phô trương, khoe khoang là tự rước lấy họa vào thân.
Người sống theo đạo thành toàn mọi việc rồi thì nên lui về - không làm chủ mọi việc, không kể công,… Việc làm đó sẽ hợp với đạo.

[Quả thật vàng bạc đầy nhà làm sao giữ nổi vì khơi gợi lòng tham người khác, là việc làm mang lại nguy hại đến thân mạng. Nhà lắm bạc, nhiều tiền con cái và người thân dễ sinh hư đốn, trụy lạc,… Con người không phải là kẻ giữ kho, cũng không phải là nô lệ của tiền tài, vàng bạc. Giữ chậu đầy hoài chi bằng thôi đi vì lẽ đó là việc làm không nhiều lợi ích; Chẳng bằng lấy nước sử dụng, dùng chậu làm việc cần làm khác. Giữ chậu đầy hoài chi bằng thôi đi còn có hàm nghĩa sâu sắc khác - Đó là mỗi con người được sinh ra và lớn lên thường học hỏi sự hiểu biết sẵn có trong cuộc sống. Cho đến một lúc nào đó cái tôi của mỗi con người tự cho rằng mình đã trưởng thành, từng trải, đủ thông minh hơn người khác. Sự tự phụ về sự hiểu biết hơn người khiến cho mỗi người không thể tiến bộ thêm vì người đó sẽ không học hỏi thêm những điều mới lạ khác như là một cái chậu đầy nước không thể đổ được nước vào thêm. Chỉ khi người đó dứt trừ sự tự phụ hơn người, biết khiêm tốn hạ mình, lắng nghe người khác, học hỏi thêm thì sự hiểu biết của người đó mới không ngừng tăng trưởng, tiến bộ thêm.]

11
Tam thập phúc, cộng nhất cốc, đương kì vô, hữu xa chi dụng. Duyên thực dĩ vi khí, đương kì vô, hữu khí chi dụng.
Tạc hộ dũ dĩ vi thất, đương kì vô, hữu thất chi dụng. Cố hữu chi dĩ vi lợi, vô chi dĩ vi dụng.

Ba mươi tay hoa cùng chụm lại nơi cái vành xe, nhưng chính nhờ khoảng trống không ở cái vành xe mà bánh xe mới dùng được. Nhồi đất sét để làm chén bát, nhưng chính nhờ khoảng trống ở trong mà chén bát mới dùng được. Đục cửa và cửa sổ để làm nhà, chính nhờ khoảng trống không đó mà ngôi nhà mới dùng được.
Vậy ra con người cứ tưởng cái có - vành xe, chén bát, nhà cửa,… mang lại lợi ích cho con người nhưng thực ra chính nhờ cái không mà cái có trở nên hữu ích, mới dùng được.

[Con người thường xem trọng cái có, cái được,… Coi nhẹ cái không, cái mất,... Lão Tử đã dùng hình ảnh cái bánh xe, chén bát, nhà cửa,… để cảnh tỉnh nhận thức sai lạc của con người. Vì bản thân cái có - bánh xe, chén bát, nhà cửa,… khi không có cái không - khoảng trống không bên trong các món đồ vật thì cái có - nhà cửa, chén bát, bánh xe,… sẽ không thể sử dụng được; Thực sự cái có nhờ cái không mới phát huy được giá trị, công dụng, làm cho đồ vật trở nên hữu dụng, có ích lợi cho con người.]

45
Đại thành nhược khuyết, kì dụng bất tệ; Đại doanh nhược xung, kì dụng bất cùng; Đại trực nhược khuất; Đại xảo nhược chuyết; Đại biện nhược nột.
Tĩnh thắng táo; Hàn thắng nhiệt; Thanh tĩnh vi thiên hạ chính.

Cái gì hoàn hảo thì như là khiếm khuyết mà công dụng lại không cùng tận; Cái gì cực đầy thì dường như là rỗng không mà công dụng lại vô cùng; Cái gì cực thẳng thì dường như là cong; Làm việc cực khéo thì dường như là vụng về; Người ăn nói cực hay thì dường như là ấp úng.
Sự lặng yên sẽ hơn hẳn sự vọng động, huyên náo; Nhiệt độ lạnh sẽ trấn áp được nhiệt độ nóng bức; Sự lặng yên, tĩnh tại sẽ làm chủ được mọi việc trong thiên hạ.

54
Thiện kiến giả bất bạt, thiện bão giả bất thoát.
Tu chi ư thân, kì đức nãi chân; Tu chi ư gia, kì đức nãi dư; Tu chi ư hương, kì đức nãi trường; Tu chi ư bang, kì đức nãi phong; Tu chi ư thiên hạ, kì đức nãi phổ.
Cố dĩ thân quan thân; Dĩ gia quan gia; Dĩ hương quan hương; Dĩ bang quan bang; Dĩ thiên hạ quan thiên hạ. Ngô hà dĩ tri thiên hạ nhiên tai? Dĩ thử.

Khéo dựng thì không thể nhổ lên được, khéo nắm giữ thì không thể thoát ra được.
Lấy đạo mà tu thân thì đức sẽ tự đầy đủ; Lấy đạo mà lo việc nhà thì đức sẽ có dư; Lấy đạo mà lo việc làng xóm thì đức sẽ lớn ra; Lấy đạo mà lo việc nước thì đức sẽ trùm khắp; Lấy đạo mà lo việc thiên hạ thì mọi người sẽ tùy thuận giữ đạo, dưỡng đức.
Lấy thân mình mà xét thân người; Nhà mình mà xét nhà người; Làng mình mà xét làng khác; Nước mình mà xét nước khác; Thiên hạ ngày nay mà xét thiên hạ thời xưa và thời sau. Làm sao ta biết được việc của thiên hạ thế này hay thế khác? Chính là do dùng lý lẽ, phương cách đó.

24
Xí giả bất lập, khóa giả bất hành. Tự hiện giả bất minh, tự thị giả bất chương, tự phạt giả bất công, tự khoa giả bất trường. Kì ư đạo dã viết: Dư thực chuế hành, vật hoặc ố chi, cố hữu đạo giả bất xử.

Người nào đứng nhón chân thì sẽ không đứng vững, người nào bước xoạc cẳng thì sẽ không đi được lâu. Người tự biểu hiện thì sẽ không sáng tỏ, kẻ tự cho là phải thì không thật đúng đắn, kẻ tự kể công thì không còn công trạng, kẻ tự phụ thì không thể tồn tại lâu bền. Đối với đạo thì những thái độ đó là những đồ ăn thừa, những cục bướu, ai cũng ghét. Cho nên người hiểu đạo sẽ không làm như vậy.

71
Tri bất tri thượng; Bất tri tri bệnh. Thánh nhân bất bệnh, dĩ kì bệnh bệnh. Phù duy bệnh bệnh, thị dĩ bất bệnh.

Biết mà làm ra vẻ ngu tối là người cao minh; Không biết mà làm ra vẻ biết tất cả, hiểu thông suốt là sai lầm. Người đạt đạo sở dĩ không có tật sai lầm đó vì nhận biết cái lỗi đó là tật hư, là thói xấu. Cho rằng cái tật hư đó là sai lầm, là thói xấu cho nên mới không phạm phải sai lầm đó.

…

ĐẠO ĐỨC KINH TÂN BẢN

05:46 |
Thiên Thượng
Khái niệm Đạo

1
Đạo khả đạo phi thường đạo; Danh khả danh, phi thường danh.
Vô danh thiên địa chi thủy; Hữu danh vạn vật chi mẫu.
Cố thường vô dục dĩ quan kì diệu; Thường hữu dục dĩ quan kì kiếu.
Thử lưỡng giả đồng xuất nhi dị danh.
Đồng vị chi huyền. Huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn.
Đạo mà được đặt tên thì tên gọi đó không phải là tên gọi không thể thay đổi của đạo; Tên mà có thể đặt ra để gọi một sự vật, hiện tượng bất kỳ thì không phải là tên không thể thay đổi của sự vật, hiện tượng đó.
Không là tên gọi của cái khởi  thủy (khởi nguồn) của vạn vật; Có là tên gọi của mẹ sinh ra vạn vật.
Cho nên  thường đặt vào chỗ  không  là để xét cái thể vi tế, sâu kín tuyệt diệu của đạo;  Thường đặt vào chỗ có là để xét cái dụng rộng lớn, vô biên trùm khắp của đạo.
Hai cái - không và có - cùng có nguồn gốc từ đạo mà lại khác tên. Cả không và có đều là huyền diệu.
Từ sự huyền diệu của không và có tạo ra vô số sự huyền diệu là tất cả vạn vật, trời đất và cả vũ trụ, đó là cửa của mọi biến hóa kì diệu có từ đạo.

5
(5-2)Thiên địa chi gian, kì do thác thược hồ! Hư nhi bất khuất, động nhi dũ xuất.

Đạo như là khoảng giữa của trời đất, như là ống bễ! Rỗng không mà không cùng tận, càng vận hành thì lại càng nhiều biến hóa, sáng tạo.

6
Cốc thần bất tử. Thị vị huyền tẫn; Huyền tẫn chi môn, thị vị thiên địa căn.
Miên miên nhược tồn, dụng chi bất cần.

Đạo giống như là cái hang thần còn mãi, không bị diệt mất. Đạo còn được gọi là mẹ huyền diệu, nhiệm màu; Mẹ huyền diệu, nhiệm màu chính là gốc của trời đất và vạn vật. Đạo cứ vận hành mãi như là không có điểm dừng, tạo thành mọi vật mà lại không dùng đến.

25
(25-1)Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh. Tịch hề, liêu hề, độc lập nhi bất cải, chu hành nhi bất đãi, khả dĩ vi thiên địa mẫu. Ngô bất tri kì danh, tự chi viết đạo, cưỡng vị chi danh viết đại.

Đạo chính là vật hỗn độn và dường như hình thành trước cả trời đất. Đạo yên lặng (vô thanh), trống không (vô hình), đứng một mình mà không thay đổi (bất biến), vận hành khắp vũ trụ mà không ngừng, có thể coi đạo là mẹ của vạn vật và trời đất. Ta không biết đạo tên là gì, tạm đặt tên gọi là đạo, miễn cưỡng gọi đạo là rộng lớn vô cùng.

41
(41-2)Đại phương vô ngung; Đại khí vãn thành; Đại âm hi thanh; Đại tượng vô hình, đạo ẩn vô danh. Phù duy đạo, thiện thải thả thành.

Đạo như là bốn phương - đông tây nam bắc - rỗng không, không bờ mé, không dễ nhận biết cạnh góc, phương vị, giới hạn; Đạo như là hư không, không có hình dạng cố định, không có kích thước rõ ràng,…; Đạo như là thanh âm cực lớn mà con người không thể nghe thấy được; Đạo như là một vật thể to lớn vô cùng, không thể nhìn thấy toàn vẹn, vì thế không thể nhận biết được hình tượng, kích cỡ,…; Đạo dường như sâu kín, ẩn khuất, không thể mô tả, nói rõ, không có tên gọi rõ ràng, cụ thể, cố định. Chỉ có đạo là khéo sinh và thành toàn vạn vật.

20
(20-4)Hoang hề kì vị ương tai!

Đạo rất rộng lớn, không thể nói rõ, không sao diễn tả được!

34
Đại đạo phiếm hề, kì khả tả hữu. Vạn vật thị chi nhi sinh nhi bất từ, công thành nhi bất hữu, y dưỡng vạn vật nhi bất chủ. Thường vô dục, khả danh ư tiểu; Vạn vật qui yên nhi bất chủ, khả danh vi đại. Dĩ kì chung bất tự vi đại, cố năng thành kì đại.

Đạo lớn lan tràn, rộng khắp mọi nơi, có cả bên trái lẫn bên phải. Vạn vật nhờ đạo sinh ra nhưng đạo không chia cắt nhỏ vụn mọi vật, thành toàn mọi việc mà không chiếm làm của mình, nuôi dưỡng mà không làm chủ vạn vật. Đạo thường không thể hiện, vì thế có thể xem tính chất của đạo là nhỏ nhẹm, sâu kín - ẩn vi, tinh tế; Vạn vật qui thuận, cùng theo về mà đạo không làm chủ, vì thế có thể  nói là đạo lớn vô cùng. Và cho đến cùng tận, đạo cũng không tự nhận là lớn cho nên mới hoàn thành được cái tính vĩ đại không cùng của đạo.

25
(25-2)Đại viết thệ, thệ viết viễn, viễn viết phản. Cố đạo đại, thiên đại, địa đại, nhân diệc đại. Vực trung hữu tứ đại, nhi nhân cư kì nhất yên. Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên.

Lớn vô cùng thì lưu hành không ngừng, lưu hành không ngừng thì đi xa, đi xa rồi thì quay trở về. Cho nên đạo lớn, trời lớn, đất lớn, người cũng lớn. Trong vũ trụ có bốn cái lớn, mà người là cái lớn thứ nhất. Người nương tựa đất, đất nương tựa trời, trời nương tựa đạo, đạo là tất cả quy luật tự nhiên có trong vũ trụ.

67
(67-1)Thiên hạ giai vị ngã đạo đại, tự bất tiếu. Phù duy đại, cố tự bất tiếu. Nhược tiếu, cửu hỹ kì tế dã phù.

Đạo rộng lớn bao la, lan tràn trùm khắp, cơ hồ không có “vật gì” có thể so sánh được. Vì là đạo lớn vô cùng mà lại không có “vật gì” so sánh nên mới gọi là cực lớn. Nếu có “vật gì” so sánh, thay thế được thì đạo đã trở thành nhỏ từ lâu rồi.

4
Đạo xung, nhi dụng chi hoặc bất doanh; Uyên hề tự vạn vật chi tôn.
Tỏa kì nhuệ, giải kì phân; Hòa kì quang; Đồng kì trần; Trạm hề tự hoặc tồn.
Ngô bất tri thùy chi tử; Tượng đế chi tiên.

Đạo có bản thể như là hư không mà công dụng thì cơ hồ vô cùng; Đạo uyên áo, thâm sâu mà dường như tạo ra vạn vật; Vạn vật vận hành, luân chuyển trong đạo.
Đạo dường như không để lộ sự tinh nhuệ ra mà lại khéo hay giải trừ những rối loạn, tranh cạnh,… giữa vạn vật cũng như trời đất; Đạo thường hay che bớt ánh sáng, sức ảnh hưởng, sự chi phối đến vạn vật; Đạo hòa đồng với trần tục và vạn vật; Đạo sâu kín, không biểu hiện mà dường như tồn tại mãi.
Ta không biết đạo là con ai, có nguồn gốc từ đâu; Có lẽ đạo có trước cả thượng đế.

21
(21-2)Đạo chi vi vật, duy hoảng duy hốt; Hốt hề hoảng hề, kì trung hữu tượng; Hoảng hề hốt hề, kì trung hữu vật. Yểu hề minh hề, kì trung hữu tinh; Kì tinh thậm chân, kì trung hữu tín.
Tự cổ cập kim, kì danh bất khứ, dĩ duyệt chúng phủ. Ngô hà dĩ tri chúng phủ chi trạng tai. Dĩ thử.

Đạo là cái gì chỉ mập mờ, thấp thoáng; Thấp thoáng mập mờ mà ẩn chứa bên trong các hiện tượng; Mập mờ, thấp thoáng mà ẩn chứa bên trong các sự vật; Đạo thâm viễn, sâu kín mà bên trong chứa đựng cái tinh túy; Cái tinh túy đó rất xác thực và đáng tin.
Từ xưa đến nay đạo không dừng lại, đạo luôn sáng tạo vạn vật. Do đâu mà ta biết được bản nguyên của vạn vật? Chính là do đạo.

14
(14-1)Thị chi bất kiến danh viết di, thính chi bất văn danh viết hi, bác chi bất đắc danh viết vi. Thử tam giả bất khả trí cật, cố hỗn nhi vi nhất.
Kì thượng bất kiểu, kì hạ bất muội, thằng thằng bất khả danh, phục qui ư vô vật.
Thị vị vô trạng chi trạng, vô vật chi tượng, thị vị hốt hoảng. Nghinh chi bất kiến kì thủ, tùy chi bất kiến kì hậu.

Đạo nhìn không thể thấy gọi là di - vô sắc, nghe không thể được gọi là hi - vô thanh, nắm bắt không thể dính gọi là vi - vô hình. Vì là vô sắc, vô thanh, vô hình nên truy cứu đến cùng cũng không biết là gì, chỉ thấy trộn lộn, hòa lẫn làm một thôi.
Ở trên không sáng, ở dưới không tối, thâm viễn bất tuyệt, không thể gọi tên và sau cùng lại trở về cõi vô vật.
Cho nên tạm gọi là cái trạng thái không có hình trạng, cái hiện tượng không có vật thể là đạo. Đạo thấp thoáng, mập mờ. Tìm dấu tích đạo thì không thấy điểm khởi nguồn - vô thủy, lần theo đạo thì không thể nhận biết điểm kết thúc - vô chung.

42
(42-1)Đạo sinh nhất; Nhất sinh nhị; Nhị sinh tam; Tam sinh vạn vật. Vạn vật phụ âm nhi bão dương, trùng khí dĩ vi hòa.

Đạo sinh một; Một sinh hai; Hai sinh ba; Ba sinh ra vạn vật. Vạn vật đều có cả âm dương, âm dương được điều hòa bằng một loại khí trùng ngưng.

[Theo quan niệm từ xưa đạo khởi nguồn chỉ từ một vật duy nhất; Do có khái niệm đạo từ một vật duy nhất mà phát sinh có thêm vật thứ hai; Từ vật thứ hai mà nảy sinh ra vật tiếp theo - vật thứ ba; Quá trình cứ thế tiếp nối về sau tạo ra vạn vật. Vạn vật đều có cả âm dương, âm dương trong vạn vật đều được cân bằng tùy thuộc vào một loại khí trung hòa, là quy luật của đạo.]

[Theo nguồn tri thức cổ xưa vạn vật có nguồn gốc từ thái cực; Thái cực sinh ra lưỡng nghi; Lưỡng nghi sinh ra tứ tượng; Tứ tượng sinh ra bát quát; Từ đó hình thành nên mọi sự vật, hiện tượng có trong trời đất. Ngoài ra, vạn vật đều chứa đựng âm dương và âm dương luôn được cân bằng tùy  thuộc vào  khí trùng ngưng. Kết hợp với sự hiểu biết của bản thân, Lão Tử đã  giản lược, rút gọn lại  nguồn tri thức của người xưa nhằm mục đích giúp bản thân cùng mọi người nắm bắt, nhận biết, tìm hiểu, diễn tả,… đạo cũng như là những quy luật của đạo. Lão Tử đã mô tả đạo, quy luật đạo một cách cô động, súc tích, gãy gọn, dễ hiểu hơn. Trong đó  thái cực chính là nhất; Lưỡng nghi chính là hai; Tứ tượng chính là ba; Bát quái chính là vạn vật có trong vũ trụ và khí trùng ngưng chính là những quy luật của đạo.]

51
Đạo sinh chi, đức súc chi, vật hình chi, thế thành chi. Thị dĩ vạn vật mạc bất tôn đạo nhi quí đức. Đạo chi tôn, đức chi quí, phù mạc chi mệnh nhi thường tự nhiên.
Cố đạo sinh chi, đức súc chi, trưởng chi, dục chi, đình chi, độc chi, dưỡng chi, phú chi. Sinh nhi bất hữu; Vi nhi bất thị; Trưởng nhi bất tể. Thị vị huyền đức.

Đạo sinh ra vạn vật, đức bao bọc vạn vật, vạn vật được sinh ra dựa vào tự nhiên - khí hậu, chất đất, nguồn nước,… - mà có hình dạng, tính chất, chủng loại, công dụng,… sai biệt, khác nhau. Dù vậy mà đạo và đức không cần vạn vật coi trọng. Chính nhờ vậy mà vạn vật đều tôn trọng đạo và quí đức. Đạo sở dĩ được tôn trọng, đức sở dĩ được quí là vì đạo và đức không can thiệp, chi phối vạn vật mà để vạn vật tự nhiên phát triển.
Đạo sinh ra vạn vật, đức bao bọc, bồi dưỡng, nuôi lớn tới thành hình, che chở vạn vật. Tuy tạo ra và nuôi dưỡng vạn vật mà không chiếm làm của riêng, giúp vạn vật sinh trưởng, lớn lên mà không ghi nhớ kể công, không làm chủ, không can thiệp chi phối sự phát triển của vạn vật nhờ vậy mà đạo có được      đức             huyền diệu.

32
(32-1)Đạo thường vô danh, phác, tuy tiểu, thiên hạ mạc năng thần dã.
 (32-4)Thủy chế hữu danh, danh diệc kí hữu, phù diệc tương tri chỉ. Tri sở chỉ khả dĩ bất đãi.
Thí đạo chi tại thiên hạ, do xuyên cố chi dữ giang hải.

Đạo ban đầu không có tên gọi, tuy chất phác, nhỏ nhẹm, ẩn vi mà vạn vật không thể coi thường đạo.
Bởi vì đạo có trước vạn vật, trước khi vạn vật có tên gọi (trước khi có ngôn ngữ). Sau khi đạo khởi nguồn tạo ra vạn vật và ngôn ngữ rồi thì đạo mới có tên gọi, khi đã có tên gọi thì đạo đã không làm chủ vạn vật. Vì vậy vạn vật nhận biết cái đức huyền diệu của đạo nên không thể coi thường đạo.

Đạo đối với trời đất và vạn vật cũng giống như là sông biển với suối khe.

Luận Giải (P.2)

01:02 |
Ngôn ngữ viết Đạo đức kinh lại là ngôn ngữ Trung Hoa cổ, rất nhiều từ đồng âm, khác nghĩa và có những từ có rất nhiều nghĩa; Việc trình bày lại ngắn gọn, việc lưu truyền lâu xa, việc sao chép nhiều lần nên dẫn đến nhiều đoạn ở bản gốc bị sai lạc, tối nghĩa. Có đoạn do người đời sau thêm vào. Không ít câu từ khi đặt vào mỗi ngữ cảnh khác nhau lại có ý nghĩa hoàn toàn trái ngược nhau. Cụ thể:
Câu “Tuyệt học vô ưu” khi đặt trong nguyên bản thì được dịch là “Dứt học thì không lo” nhưng khi tách rời ra khỏi Đạo đức kinh lại có hàm nghĩa khác hẳn là “Điều cao nhất của việc học là giữ được sự không lo lắng, ưu phiền, giữ lòng hư tĩnh, vô ưu”. Bởi lẽ chữ “tuyệt” ngoài nghĩa là “chấm dứt, gạt bỏ” còn có nghĩa khác là “cao nhất”.
Câu “Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu; Thánh nhân bất nhân dĩ bách tính vi sô cẩu” khi đặt vào bối cảnh xã hội mà Lão Tử sống với “Triều thậm trừ, điền thậm vu, sương thậm hư; Phục văn thái, đái lợi kiếm, yếm ẩm thực, tài hóa hữu dư, thị vị đạo khoa, phi đạo dã tai!”
Triều đình thật ô uế, đồng ruộng thật hoang vu, kho lẫm thật trống rỗng; Mà họ bận áo gấm thêu, đeo kiếm sắc, ăn uống chán mứa, của cải thừa thãi. Như vậy là trùm trộm cướp chứ đâu phải là hợp đạo!
Thì câu “Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu; Thánh nhân bất nhân dĩ bách tính vi sô cẩu” sẽ được hiểu với nghĩa: Trời đất không có tình người xem mọi vật bình đẳng, không phân biệt, mọi thứ đều như chó rơm không thương, không ghét; Thánh nhân ở đây được dùng với hàm nghĩa là người ở trên, tức là nhà cầm quyền. Thế nên câu sau sẽ được diễn nghĩa: Vua chúa, quan lại đương thời không có tình người, xem dân đen như chó rơm, như cỏ rác, mặc sức vơ vét, bóc lột, hà hiếp.
Ngược lại, khi đặt câu “Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật vi sô cẩu; Thánh nhân bất nhân dĩ bách tính vi sô cẩu” vào ngữ cảnh sau thì ý nghĩa sẽ khác đi.

(56-1)Tri giả bất ngôn; Ngôn giả bất tri. Tắc kì đoài, bế kì môn, tỏa kì nhuệ, giải kì phân, hòa kì quang, đồng kì trần. Thị vị huyền đồng.
(5-1)Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu; Thánh nhân bất nhân, dĩ bách tính vi sô cẩu.
(79-2)Thiên đạo vô thân, thường dữ thiện nhân.
(56-2)Cố bất khả đắc nhi thân. Bất khả đắc nhi sơ. Bất khả đắc nhi lợi. Bất khả đắc nhi hại. Bất khả đắc nhi quí. Bất khả đắc nhi tiện. Cố vi thiên hạ quí.

Người nào sống thuận theo đạo thì không nói về đạo; Người nào nói về đạo thì không thật sống trong đạo. Vì lẽ người đạt đạo là người đã ngăn hết các lối, đóng hết các cửa, không để lộ sự tinh nhuệ ra, gỡ những rối loạn, che bớt ánh sáng, hòa đồng với trần tục. Như vậy người đó đã hòa đồng với vạn vật một cách hoàn toàn, họ sẽ không tự biểu hiện, chứng tỏ sự hiểu biết của bản thân.
Trời đất không có tình người, coi vạn vật như chó rơm, như cỏ rác, không thương, không ghét;  Người đạt đạo dường như cũng không có tình người, coi mọi người cũng như chó rơm, cỏ rác, không ghét thương. (Hàm ý nói người đạt đạo có thái độ bình đẳng, không phân biệt khi tiếp người cho dù người đối diện là ai thì người đạt đạo vẫn giữ thái độ trung dung, bình thản)
Trời đất và người đạt đạo không tư vị, thân thích với bất kỳ ai, thường quý mến người có đức.
Đạt tới cảnh giới đó thì người đạt đạo sẽ rõ biết không có ai là người thân thích. Không có ai là người xa lạ. Không có ai làm cho mình được lợi. Không có ai làm cho mình bị hại? Không cần người khác tôn trọng. Không quan tâm đến người nhận định mình hèn hạ, thấp kém. Vì vậy mà người đạt đạo trở nên tôn quí nhất trong thiên hạ.

Ở phần 36,

Tương dục hấp chi, tất cố trương chi. Tương dục nhược chi, tất cố cường chi. Tương dục phế chi, tất cố cử chi. Tương dục đoạt chi, tất cố dữ chi. Thị vị vi minh. Nhu nhược thắng cương cường.
Ngư bất khả thoát ư uyên; Quốc chi lợi khí bất khả dĩ thị nhân.

Muốn cho vật gì thu rút lại thì tất hãy mở rộng nó ra đã. Muốn cho ai yếu đi thì tất hãy làm cho họ mạnh lên đã. Muốn phế bỏ ai thì tất hãy đề cử họ lên đã. Muốn cướp lấy vật gì thì tất hãy cho đã. Hiểu như vậy là sâu kín mà sáng suốt. Vì nhu nhược thắng được cương cường.
Cá không nên rời khỏi vực. Lợi khí của đất nước không nên khoe cho dân thấy.

Đoạn văn này thể hiện sự cơ mưu, quyền biến của bọn mưu sĩ. Không hợp với tư tưởng vô vi, giữ lòng hư tĩnh, coi trọng sự thành tín,… của Lão Tử. Có lẽ đoạn văn này do người đời sau chịu ảnh hưởng tư tưởng Pháp gia thêm vào.

Ở phần 79,

(79-1)Hòa đại oán, tất hữu dư oán, an khả dĩ vi thiện?
Thị dĩ thánh nhân chấp tả khế, nhi bất trách ư nhân. Hữu đức ti khế; Vô đức ti triệt.

Giải được cái oán lớn thì vẫn còn chút oán thừa trong lòng, như vậy sao gọi là phải?
Cho nên người sống theo đạo sẽ cầm phía bên trái tờ khế ước(tờ hợp đồng) mà đời không nhận bởi vì người sống theo đạo chỉ giữ tờ khế ước để làm tin chứ không buộc người phải trả. Thế nên người có đức cũng sẽ cầm phía trái tờ khế ước; Người không có đức thì không làm như vậy, họ sẽ cầm bên phải tờ khế ước và sẽ đòi người phải trả cho mình.

Ở phần 54 có đoạn:

Tử tôn dĩ tế tự bất chuyết.

Con cháu mà khéo lập, khéo giữ việc tế tự thì dòng tộc sẽ  đời     đời     không dứt     mất.

Hai đoạn văn này khi xét kỹ sẽ nhận thấy có ẩn chứa tư tưởng của Nho giáo, hẳn là phần thêm vào của người đời sau.

Ở phần 55, có đoạn:

Hàm đức chi hậu, tỉ ư xích tử. Độc trùng bất thích, mãnh thú bất cứ; Quắc điểu bất bác. Cốt nhược, cân nhu nhi ác cố, vị tri tẫn mẫu chi hợp nhi tôi tác, tinh chi chí dã. Chung nhật hào nhi bất sá, hòa chi chí dã.

Người nào có đức dày thì như con đỏ. Độc trùng không chích, mãnh hổ không vồ, ác điểu không quắp. Xương yếu gân mềm mà tay nắm rất chặt, chưa biết giao hợp mà con cu dựng đứng, như vậy là tinh khí sung túc. Suốt ngày gào hét mà giọng không khản, như vậy là khí cực hòa.

Lão Tử là người sống tùy thuận theo đạo nhưng ông thật không phải là một Đạo gia. Đoạn “Hàm đức chi hậu, tỉ ư xích tử. Độc trùng bất thích, mãnh thú bất cứ; Quắc điểu bất bác” chính thật là do Lão Tử viết vì Lão Tử khuyên dạy mọi người nên giữ tâm xích tử, là giữ tâm hồn như là đứa trẻ sơ sinh vô tư, vô lự, hồn nhiên sống. Con người sống theo đạo không nên đi vào nơi hung hiểm, tuyệt địa như chiến trường, rừng sâu, núi thẳm,… thì sẽ không bị mãnh thú vồ, ác điểu quắp, chết vì binh khí, đao kiếm. Về sau, các đạo gia tu tiên đã dựa vào việc giữ “Tâm xích tử” đã khai mở sự hiểu biết phát triển đoạn kinh văn trên thêm một bước tạo thành yếu quyết “Bế tinh, luyện khí”. Thế nên, đoạn “Cốt nhược, cân nhu nhi ác cố, vị tri tẫn mẫu chi hợp nhi tôi tác, tinh chi chí dã. Chung nhật hào nhi bất sá, hòa chi chí dã” là do những người theo Lão giáo bổ sung thêm vào vì lẽ tinh ý bạn sẽ nhận ra đoạn này không nhất quán với tư tưởng xuyên suốt của Đạo đức kinh. Cách hành văn của Đạo đức kinh chủ yếu thể hiện những quy luật chung chung, không đi vào cụ thể, không đi sâu vào chi tiết và thường mang tính giả định qua các ngôn từ - cơ hồ, dường như,…
…
Không chỉ vậy, có không ít đoạn thể hiện ý từ của việc điều binh của các nhà binh lược - binh pháp.
Tuy nhiên, với những đoạn kinh văn có thể dung hòa với nguyên bản thì tôi sẽ tùy thuận giữ lại. Những đoạn không nhất quán với Đạo đức kinh tôi sẽ lược giản khỏi bản gốc Đạo Đức Kinh Tân Bản.
Đối với những đoạn kinh văn do quá trình lưu giữ, sao chép bị dư, thiếu hoặc sai từ,… tôi sẽ tùy thuận hiệu chỉnh lại cho phù hợp, thống nhất với tư tưởng chung của Đạo đức kinh.

Ở phần 20, có đoạn không nhất quán với tư tưởng của Đạo đức kinh nên chăng hiệu đính lại cho hợp lý hơn.

(20-2)Duy chi dữ a, tương khứ kỉ hà? Thiện chi dữ ác, tương khứ nhược hà?

Việc vâng dạ với thái độ kính trọng, lễ phép và câu trả lời ơi với giọng nói bất cần, thiếu tôn trọng khác nhau bao nhiêu? Việc thiện với việc ác khác nhau thế nào? (Trích lược từ bản dịch của dịch giả Nguyễn Hiến Lê)

Ở góc nhìn tổng thể, khách quan,… câu từ đoạn văn này có phần sai khác, dị biệt với tư tưởng xuyên suốt trong nội dung của Đạo Đức Kinh. Nguyên nhân của sự không đồng nhất này có lẽ do việc sao chép nhiều lần khiến cho bản gốc Đạo Đức Kinh bị sai xót một vài từ dẫn đến nội dung, ý nghĩa của câu văn bị thay đổi. Trong trường hợp này, có lẽ do từ đa [多] và từ a [阿] là hai từ đồng âm vì thế chữ đa [多] bị viết nhầm thành chữ a [阿] . Nếu dùng chữ đa [多] thay cho chữ a [阿] thì đoạn Đạo Đức Kinh trên sẽ được viết lại như sau:

(20-2)Duy chi dữ đa, tương khứ kỉ hà? Thiện chi dữ ác, tương khứ nhược hà?

Ít và nhiều khác nhau ra sao? Việc thiện ác khác nhau như thế nào?

Và bản dịch sẽ được diễn giải lại sẽ có nội dung nhất quán, tương đồng với tư tưởng mà Lão Tử thể hiện xuyên suốt trong Đạo Đức Kinh.

Ở phần 50, có đoạn:

Xuất sinh nhập tử. Sinh chi đồ thập hữu tam, tử chi đồ thập hữu tam, nhân chi sinh, động chi tử địa, diệc thập hữu tam.
Phù hà cố? Dĩ kì sinh sinh chi hậu. Cái văn thiện nhiếp sinh giả, lục hành bất ngộ hủy hổ, nhập quân bất bị binh giáp. Hủy vô sở đầu kì giác, hổ vô sở thố kì trảo; Binh vô sở dung kì nhẫn. Phù hà cố? Dĩ kì vô tử địa.

Ra đời gọi là sống, vô đất gọi là chết, cứ 10 người ra đời thì 3 người bẩm sinh được sống lâu, 3 người bẩm sinh chết yểu, 3 người có thể sống lâu được nhưng chết sớm.
Như vậy là vì đâu? Vì hạng người thứ ba tự phụng dưỡng quá hậu (hưởng thụ quá mức). Tôi từng nghe nói người khéo dưỡng sinh thì đi đường không gặp con tê ngưu, con hổ, ở trong quân đội thì không bị thương vì binh khí. Con tê ngưu không dùng sừng húc, con hổ không dùng móng vồ, binh khí không đâm người đó được. Tại sao vậy? Tại vì người đó khéo dưỡng sinh, không tiến vào tử địa. (Trích lược từ bản dịch của dịch giả Nguyễn Hiến Lê)

Ngoài ra đoạn “Sinh chi đồ thập hữu tam, tử chi đồ thập hữu tam, nhân chi sinh, động chi tử địa, diệc thập hữu tam…” còn được diễn dịch theo nhiều cách thức khác nhau nhưng nhìn chung ý từ có phần rối, tối nghĩa,… Có lẽ đoạn kinh văn này qua quá trình truyền giữ đã có sự sai xót, cụ thể là dư 3 chữ “hữu” khiến cho ngữ nghĩa của đoạn văn rối rắm, khó luận giải. Nên chăng bỏ chữ “hữu” thì việc diễn nghĩa có phần mạch lạc hơn.

Xuất sinh nhập tử. Sinh chi đồ thập tam, tử chi đồ thập tam. Nhân chi sinh; Động chi tử địa, diệc thập tam. Phù hà cố?
Dĩ kì sinh sinh chi hậu. Cái văn thiện nhiếp sinh giả, lục hành bất ngộ hủy hổ, nhập quân bất bị binh giáp. Hủy vô sở đầu kì giác, hổ vô sở thố kì trảo; Binh vô sở dung kì nhẫn. Phù hà cố? Dĩ kì vô tử địa.

Sinh ra gọi là sống, mất đi gọi là chết. Ví như là có 13 người được sinh ra thì 13 người đó cũng sẽ chết đi. Sự thật là con người sinh ra, sống, làm việc,… sau một thời gian thì con người sẽ phải chết. Số người sinh ra chính bằng số người chết đi cũng đều là 13 người. Có phải là như vậy không?
Trong số những người được sinh ra đó, có một số người sống được dài lâu, có tuổi thọ cao vì họ biết dưỡng sinh, biết quý trọng mạng sống. Tôi từng nghe nói người khéo dưỡng sinh thì đi đường, sẽ tránh không gặp con tê ngưu, con hổ; Ở trong quân đội thì tránh không để binh khí làm thương tổn. Vì vậy mà không bị con tê ngưu dùng sừng húc, không bị con hổ dùng móng vuốt vồ; Không bị binh khí tổn hại. Tại sao lại như vậy? Tại vì người đó khéo dưỡng sinh, không đặt mạng sống của mình vào những nơi hung hiểm, tuyệt địa.
Trong Đạo đức kinh, hai từ “Thánh nhân” được Lão Tử dùng rất nhiều lần với nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào ngữ câu, ngữ cảnh mà có các nghĩa sau: 1 - Người đạt đạo, 2 - Người học đạo, 3 - Người sống theo đạo, 4 - Người hiểu biết, 5 - Nhà cầm quyền hiểu đạo, 6 - Nhà cầm quyền, 7 - Các bậc tiền hiền, minh quân như vua Nghiêu, vua Thuấn,…
…
Tôi sẽ hệ thống lại bản Đạo đức kinh nhằm giúp người đọc dễ lĩnh hội ý từ, nhận rõ chân giá trị của quyển sách cổ quý giá của tiền nhân. Những mong bạn đọc lĩnh hội, chuyển hóa, sống tùy thuận theo những “điều” mà Lão Tử đã “gửi gắm” nhằm giúp cho mọi người có cuộc sống bình dị, an ổn, hạnh phúc, giảm trừ khổ đau cho bản thân và mọi người xung quanh; Đẩy lùi chiến tranh, việc giết chóc,…; Góp phần xây dựng xã hội loài người hòa bình, ấm no và hạnh phúc; Hướng nhân loại đến một nền văn minh mới thật sự bình đẳng, hài hòa, văn minh, tiến bộ và có hiểu biết.

Trân trọng!

Luận Giải (P.1)

19:40 |
Khác với cách dịch giải của các nhà nghiên cứu, học thuật, dịch giả tiền bối,… tôi sẽ hệ thống, rút gọn, hiệu chỉnh,… lại bản gốc Đạo đức kinh. Trên thực tế, các nhà nghiên cứu học thuật đã sớm nhận ra sự đan xen, trùng lập ý từ trong Đạo đức kinh. Nhưng có lẽ nhằm thể hiện sự khách quan trong quá trình dịch giải, các bậc tiền bối đã giữ nguyên bản. Việc làm thận trọng này đã khiến ý tứ của các bản dịch giải không được mạch lạc, rõ ràng. Điều này làm cho người đọc không dễ thông hiểu, lĩnh hội, sống được với tư tưởng, tri thức mà Lão Tử truyền lại.
Nhằm giữ sự khách quan cho bản gốc Đạo đức kinh, những câu từ mà người đời sau thêm vào có phần nhất quán với nguyên bản tôi sẽ giữ lại, dung hòa với bản gốc. Những đoạn Đạo đức kinh được giản lược có phần sai khác với tư tưởng Lão Tử tôi sẽ tùy thuận dịch giải riêng lẻ. Phần giản lược liên quan đến cuộc đời, bối cảnh sống, việc tự nhìn nhận, đánh giá,… bản thân và đạo của Lão Tử tôi sẽ trình bày ở phần Luận giải và phần Thiên Hạ,...
Mặc dù từ năm 165 (đời Hậu Hán) Lão Tử được Đạo giáo tôn làm Thái Thượng Lão Quân, là một trong 3 vị đại tiên tối cao (Đại la kim tiên) của Đạo Lão. Nhưng tôi vẫn phải trình bày một vấn đề không kém phần quan trọng. Đó là Lão Tử không phải là người học rộng, biết nhiều và chính Lão Tử cũng đã thừa nhận lẽ thật này ở phần  81,

Tri giả bất bác, bác giả bất tri.

Người sáng suốt hiểu đạo, biết đạo thì tri thức không cần rộng (Vì nắm được gốc đạo là hiểu rõ, thông suốt được mọi việc, biết được ngọn), người có tri thức rộng thì không hẳn là sáng suốt, hiểu đạo (Vì tìm ngọn thì quên mất gốc).
Thông qua bản gốc Đạo đức kinh, bạn dễ dàng nhận ra ý từ, các vấn đề được trình bày đan xen, trùng lập, không theo một trình tự rõ ràng, mạch lạc cho thấy Lão Tử không thực sự là người có kiến thức sâu rộng. Việc trình bày Đạo đức kinh như thể là viết cho chính bản thân xem, giống như là việc viết nhật ký. Khi tỏ ngộ, lĩnh hội được vấn đề nào liên quan đến cuộc sống và đạo thì Lão Tử viết lại nhằm để chiêm nghiệm, tùy thuận sống theo nguyên tắc đó. Ở góc nhìn tổng thể bạn sẽ nhận ra Đạo đức kinh chính là kết quả của quá trình tự học, tu thân của Lão Tử thông qua việc trả lời những câu hỏi về những vấn đề  gút mắc trong tư tưởng, nhận thức của tự thân. Về sau, Lão Tử nhận ra khi sống theo những nguyên tắc, tùy thuận theo đạo thì cuộc sống trở nên tốt đẹp, an ổn hơn. Lão Tử nhận biết rằng “Nếu mọi người - Từ vua chúa, quan lại cho đến dân thường - đều sống theo đạo thì sẽ không có chiến tranh, trộm cướp, xã hội sẽ an ổn, thái bình, loài người sẽ không còn đau khổ, thù hận,…”. Vì nghĩ như thế Lão Tử đã truyền trao tập sách mà ông đã dùng kiến thức, kinh nghiệm đúc kết được. Tuy nhiên, Lão Tử nhận biết “Với ngôn từ thể hiện trong Đạo đức kinh và ở bối cảnh xã hội phong kiến loạn lạc, vua chúa mất đạo thì sinh mạng ông sẽ lâm nguy”. Đạo đức kinh đã được lan truyền âm thầm trong tầng lớp trí thức, ẩn sĩ thời Lão Tử sống và hiển nhiên là Lão Tử sẽ che dấu thân phận, tên tuổi thật. Với cách trao truyền như thế đã tạo ra những hiểu biết sai lạc khi người xưa tiếp nhận, lĩnh hội nguồn tri thức có trong Đạo đức kinh và tốc độ lan truyền là rất chậm. Nhất là khi các nước đang xâu xé, xâm lấn triền miên thì các vị vua chúa vô đạo khó thể chấp nhận nguồn tư tưởng của Lão Tử. Mãi cho đến vài trăm năm sau, xã hội thái bình, ổn định những bậc minh quân sáng suốt ra đời thì “Đạo đức kinh mới được thừa nhận là một quyển sách có giá trị”. Việc thừa nhận “Đạo đức kinh là một quyển sách quý” cũng giống như là việc về sau các đạo nhân tu tiên đã mặc nhiên xem Lão Tử là Ông Tổ khai sáng ra đạo Lão.
Dù rằng nội dung của Đạo đức kinh thể hiện nhiều vấn đề khác nhau. Đặc biệt, vấn đề đạo được Lão Tử đề cập nhiều nhất. Tuy nhiên, khi nhìn ở góc nhìn tổng thể thì nội dung Đạo đức kinh trình bày rõ nét ở hai vấn đề căn bản. Một là tu thân, hai là trị quốc. Cả hai vấn đề tu thân và trị quốc đều dựa vào nền tảng tùy thuận theo đạo. Bởi lẽ

(55-2) Tâm sử khí viết cường. Vật tráng tắc lão, thị vị bất đạo, bất đạo tảo dĩ.

Đam mê chạy theo thọ hưởng dục vọng, để cho lòng dục sai khiến thì được gọi là tham, là cuồng. Vật nào cường tráng rồi thì sẽ già, vĩnh viễn không có việc cường tráng mãi, cường tráng mãi là trái đạo. Trái đạo tất phải diệt vong, suy kiệt, sớm chết. (Diễn theo nghĩa tu thân - tự học)

[Điều này thật nguy hại vì vậy người sống theo đạo sẽ không chạy theo vật dục, không để sự ham muốn, tư dục lôi cuốn, trói buộc, làm điều trái đạo.]

Làm việc gì cũng đừng quá ngang tàng, bạo ngược -Ỷ lại nước lớn, cường thịnh hiếp đáp, chèn ép các nước nhỏ. Việc gì cũng đừng rơi vào quá mức, vượt giới hạn. Làm như vậy thì sẽ không hợp đạo. Không hợp đạo thì dễ bị phản tác dụng, gây ra tai họa, tạo ra chiến loạn khiến người dân sống trong sự giết chóc, thù hận. Đến khi người dân nhận biết việc làm trái đạo của nhà cầm quyền sẽ mất niềm tin, không ủng hộ,… thì việc sụp đổ một đế chế, một quốc gia cường thịnh là điều không khó xảy ra. (Diễn theo nghĩa trị quốc)

 [Lịch sử phát triển của loài người đã chứng kiến bao nền văn minh rực rỡ, huy hoàng,… tàn lụi?  Bao quốc gia cường thịnh diệt vong? Đế chế La Mã, Triều đại Ai Cập, Hy Lạp,… Phải chăng khi nhà cầm quyền vì tư dục, ham mê hưởng thụ, gom góp lợi dưỡng, lợi danh,… làm điều trái đạo đẩy cuộc sống người dân vào cảnh khốn cùng, xua người dân vào những cuộc giết chóc vô nghĩa ở đấu trường đầy máu tươi, ở những cuộc tranh giành quyền lực, lãnh thổ. Kết quả khi lòng dân đã loạn thì …]
…
Thực ra vấn đề cốt lõi Lão Tử muốn mỗi người trong mọi thành phần, mọi tầng lớp của xã hội nhận biết, nắm bắt, lĩnh hội,… ở Đạo đức kinh chỉ là lấy việc tu thân làm nền tảng, là căn bản. Nếu mọi người đều biết tu thân tốt, chuẩn mực, sống tùy thuận theo đạo thì xã hội tự thái bình, an ổn, hạnh phúc.
Khi trình bày Đạo đức kinh, khuyên người giữ đạo dường như đã có người chất vấn Lão Tử mà hỏi rằng “Ông có đạt đạo không?”. Lão Tử đã điềm đạm trả lời ở phần 20,

(20-5)Chúng nhân hi hi, như hưởng thái lao, như xuân đăng đài; Ngã độc bạc hề kì vị triệu, như anh nhi chi vị hài, luy luy hề nhược vô sở qui.
Chúng nhân giai hữu dư, nhi ngã độc nhược di; Ngã ngu nhân chi tâm dã tai, độn độn hề! Tục nhân chiêu chiêu, ngã độc hôn hôn; Tục nhân sát sát, ngã độc muộn muộn, đạm hề kì nhược hải, liêu hề nhược vô chỉ.
Chúng nhân giai hữu dĩ, nhi ngã độc ngoan thả bỉ. Ngã độc dị ư nhân, nhi quí thực mẫu.

Mọi người hớn hở như hưởng bữa tiệc lớn, như mùa xuân lên đài; Riêng ta điềm tĩnh, không lộ chút tình ý gì như đứa trẻ mới sinh, chưa biết cười, rũ rượi mà đi như không có nhà để về.
Mọi người đều có thừa, riêng ta như thiếu thốn; Lòng ta ngu muội, đần độn thay! Người đời sáng rõ, riêng ta tối tăm; Người đời trong trẻo, riêng ta hỗn độn, như sóng biển nhấp nhô, như gió vèo vèo không ngừng.
Mọi người đều có chỗ dùng, riêng ta ngoan cố mà bỉ lậu. Riêng ta khác người, mà quí mẹ của muôn loài (tức đạo). (Trích lược từ bản dịch của dịch giả Nguyễn Hiến Lê)

Bối cảnh xã hội thời Lão Tử sống? Lão Tử sinh cùng thời, trước hay sau Khổng Tử?

Xã hội thời Lão Tử sống chỉ có thể nói là thời loạn lạc, các nước phân tranh, cướp hại lẫn nhau. Nhà cầm quyền thì sống xa hoa, hoang phí, dân thì đói khổ, lầm than, cơ cực. Thấu rõ nỗi khổ của người dân bị nhà cầm quyền vơ vét, bóc lột, buộc phải đi phu, đi lính, chết ở chiến trường, cảnh nước mất nhà tan,… Lão Tử đã cảnh tỉnh người dân, nhà cầm quyền qua 5000 từ trong Đạo đức kinh.
Sự sa đọa, trụy lạc của giới cầm quyền thời Lão Tử sống được thể hiện ở phần 53,

(53-2)Triều thậm trừ, điền thậm vu, sương thậm hư; Phục văn thái, đái lợi kiếm, yếm ẩm thực, tài hóa hữu dư, thị vị đạo khoa, phi đạo dã tai!

Triều đình thật ô uế, đồng ruộng thật hoang vu, kho lẫm thật trống rỗng; Mà họ bận áo gấm thêu, đeo kiếm báu, ăn uống chán mứa, của cải thừa thãi. Như vậy là trùm trộm cướp chứ đâu phải là hợp đạo!

Học thuyết của Lão Tử là chủ yếu đề cập việc tu thân và trị quốc, còn học thuyết của Khổng Tử là tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Dựa vào lập luận những nhà dịch giả cho rằng Lão Tử đả đảo lễ nghi rườm rà, phiền phức, giả tạo của Nho gia - Khổng giáo và đưa ra giả thuyết Lão Tử ra đời sau Khổng Tử (vì có lễ nghi rồi thì mới mạt sát, gạt bỏ lễ nghi). Lập luận này có vẻ ổn nhưng khi khách quan đánh giá thì lại có lỗ hỏng không nhỏ. Không phải đợi Khổng Tử ra đời thì xã hội loài người mới có hủ tục, nguyên tắc, lễ nghi,… Thật ra Khổng Tử chỉ là người kế thừa, đúc kết, tổng hợp, hệ thống, truyền dạy lại tri thức của người xưa. Cũng lại như vậy, không phải đợi đến Lão Tử ra đời thì mới hình thành nên đạo Lão. Thực tế là trước Lão Tử đã có người sống tùy thuận theo đạo và về sau mãi đến thế kỷ thứ II thì Trương Đạo Lăng mới dựng lên Lão giáo. Những nhà nghiên cứu đã trói sự nhận định cố định vào việc Lão Tử là người đầu tiên khai sáng, phát kiến ra đạo Lão, Khổng Tử là người xây dựng nên đạo Nho dẫn đến tạo ra những lầm lạc khi lĩnh hội tư tưởng của người xưa. Lão Tử - Khổng Tử, ai sinh trước ai, cùng thời hay khác thời? Điều này có thật sự là rất quan trọng? Trận bút chiến có lẽ đã đến lúc dừng lại.
Ở góc nhìn phiến diện, thiên lệch,… nhiều người đã cho rằng Nho giáo đã mai một, chìm lắng, không còn được người đời coi trọng nhưng trên thực tế Nho giáo không hề mất đi mà Nho giáo chỉ là thay đổi cho phù hợp với bối cảnh xã hội hiện tại. Ở góc nhìn tổng thể, việc học luôn được con người quan tâm, chú trọng. Việc học chính là Nho giáo - Khổng giáo; Nho giáo bao gồm việc học hỏi, rèn luyện nhân cách đạo đức, sự hiểu biết,… thông qua các chuẩn mực nhân - nghĩa - lễ - trí - tín,… Học thuyết của Nho giáo chứa đựng việc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Thế nên dù là ở phương Tây hay phương Đông thì con người có lẽ sẽ mãi mãi không có việc xóa bỏ hoàn toàn Nho giáo.
Khi nhìn nhận vấn đề sáng rõ, khách quan bạn sẽ nhận ra Lão Tử không hề đả đảo, mạt sát lễ mà Lão Tử chỉ dựa vào sự hiểu biết về cuộc sống và đạo đã nói ra quy luật phát triển của xã hội loài người. Vấn đề này thể hiện ở phần 38,

Thượng đức bất đức, thị dĩ hữu đức; Hạ đức bất thất đức, thị dĩ vô đức. Thượng đức vô vi nhi vô dĩ vi; Hạ đức vô vi nhi hữu dĩ vi.Thượng nhân vi chi nhi vô dĩ vi; Thượng nghĩa vi chi nhi hữu dĩ vi; Thượng lễ vi chi nhi mạc chi ứng, tắc nhương tí nhi nhưng chi.
Cố thất đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ. Phù lễ giả, trung tín chi bạc, nhi loạn chi thủ. Tiền thức giả đạo chi hoa; Nhi ngu chi thủy. Thị dĩ đại trượng phu xử kì hậu, bất cư kì bạc; Xử kì thực, bất cư kì hoa. Cố khứ bỉ thủ thử.

Người có đức thuận theo tự nhiên và không có ý cầu đức, cho nên có đức; Người kém đức không thuận theo tự nhiên, có ý cầu đức, cho nên không có đức. Người có đức không làm - vô vi mà thật ra là không việc gì không làm, làm mà không có ý thức đang làm vì làm việc tùy thuận theo tự nhiên; Người kém đức thì thật ra không làm - vô vi mà lại tranh công do có ý nghĩ mình đã làm. Người có lòng thương yêu giúp người thì việc giúp người xuất phát từ tấm lòng thành chứ không vì toan tính cá nhân, không nghĩ mình đã làm việc tốt; Người có lòng nghĩa hiệp thì làm việc nghĩa mà có dụng ý làm vì có sự cân phân nặng nhẹ giữa việc nên làm và việc không nên làm, để tâm đến việc tốt đã làm; Người giữ lễ - coi trọng hình thức, nguyên tắc,… thì sống theo nguyên tắc, chú trọng thủ tục, lễ nghi,… và áp đặt, buộc người khác phải giữ lễ nghi giống như mình. Việc giữ lễ là sống theo khuôn khổ, lề lối, nguyên tắc,… đôi khi quá mức gây mất hết tình.
Thực tế là đạo mất rồi sau mới có đức, đức mất rồi sau mới có nhân, nhân mất rồi sau mới có nghĩa, nghĩa mất rồi sau mới có lễ. Lễ là biểu hiện cho sự suy vi trung hậu, thành tín, là đầu mối của sự hỗn loạn, rối ren cho xã hội. Lễ giống như là việc dùng sự hiểu biết để sắp xếp, toan tính mọi việc từ trước, làm mất đi sự chất phác, tự nhiên, là biểu hiện của sự giả tạo, gượng ép; Điều đó chỉ làm rối đạo do sự bày vẽ màu mè, rườm rà, phiền phức của lễ nghi, hủ tục; Lễ nghi, hủ tục chính là nguồn gốc tạo ra sự ngu ngốc và mê muội. Cho nên người hiểu đạo chỉ giữ sự trung hậu thành tín mà không trọng lễ nghi, hình thức; Giữ đạo chất phác, tự nhiên mà không dùng đến sự hào nhoáng, hoa mĩ của lễ nghĩa. Giữ gốc, giữ đạo mà không lệ thuộc vào tục lệ, lễ nghi của người đời.

[Đạo mất rồi mới có đức, đức mất rồi mới có nhân, nhân mất rồi mới có nghĩa, nghĩa mất rồi mới có lễ. Lão Tử đã dựa vào nguyên tắc hiển nhiên, thực tế của đạo để đưa ra nhận định trên. Vì lẽ con người thời sơ khai, chưa có lề lối, khuôn phép lễ nghi thì bản thân người cha, người mẹ yêu thương, quý mến,… con cái; Con cái kính trọng, vâng lời,… cha mẹ. Sự yêu kính, thuận thảo,… này là tự nhiên, xuất phát từ tình cảm chân thành, từ sự gắn bó khắng khít, bảo bọc của người lớn với con cái mà sinh ra những biểu hiện tình cảm chân thật đó. Cho đến khi con người đông đúc và việc học hỏi, sự hiểu biết, phân biệt tăng trưởng thì nảy sinh vấn đề con cái không còn hiếu thuận; Cha mẹ không còn lo lắng, chăm sóc con cái tốt như trước. Thể hiện con người đã xa rời đạo - mất đạo. Lúc bấy giờ quan niệm về đức mới được chú ý coi trọng. Xã hội loài người mới thừa nhận những gia đình có con cái hiếu thuận, thảo hiền với cha mẹ; Cha mẹ chăm lo nuôi dạy con cái tốt là những người có đức. Điều này thể hiện tình cảm của con người đã đánh mất sự yêu thương chân thật, tự nhiên, tùy thuận. Về sau, con người tham đắm dục vọng, si mê tài vật,…dẫn đến tranh giành quyền lợi, tài sản giữa cha mẹ với con cái, vợ với chồng, anh với em, người với người,… Đây là biểu hiện con người quên bỏ đức - mất đức. Tri thức nhân loại mới đưa ra khái niệm nhân; Người có lòng nhân là người có lòng yêu thương, giúp đỡ người khác chân thành, không toan tính, vụ lợi. Sau đó, con người vì sống ích kỷ, tự tư, tự lợi,… không còn giữ được tình cảm yêu thương, giúp đỡ người một cách chân thật nữa. Mọi việc làm đều có dụng tâm, mục đích, toan tính riêng,... Con người mới đưa ra khái niệm việc nghĩa để giúp con người giữ lại chút tình cảm khăng khít còn lại giữa người với người. Nhưng về sau con người lại xa rời việc nghĩa, tri thức nhân loại mới đưa ra quan niệm lễ; Lễ là những nguyên tắc, tục lệ, lễ nghi,… mà tri thức người xưa thừa nhận và ràng buộc con người phải thực hiện, phải sống theo một cách bắt buộc, áp đặt. Điều này cho thấy lễ chính là những ràng buộc khi mà con người không còn sống tùy thuận theo đạo, mất đức, bất nhân, bất nghĩa; Con người đã “đánh mất” sự trung hậu, thành tín. Càng về sau việc lễ nghi càng thêm rườm rà, phức tạp, phiền phức. Vì thế Lão Tử mới đưa ra nhận định “Lễ là đầu mối của sự rối ren, hỗn loạn cho xã hội”.]

(Còn tiếp)